13/08/2020 09:59
Xem với cỡ chữ

Bàn về định hướng hoạt động tín dụng đầu tư tại VDB hiện nay

Nhóm nghiên cứu Ban Cân đối Kế hoạch, VDB (bài đăng số Tháng 1+2/2020 Tạp chí HTPT)
Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 22/3/2018 của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã đặt ra mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam hoàn thành mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực ASEAN về công nghiệp, trong đó một số ngành công nghiệp có sức cạnh tranh quốc tế và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. 
Các mục tiêu cụ thể chủ yếu cần đạt được đến năm 2030 là: Tỷ trọng công nghiệp trong Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đạt trên 40%; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP đạt khoảng 30%, trong đó công nghiệp chế tạo đạt trên 20%; tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng công nghiệp đạt bình quân trên 8,5%/năm, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo đạt bình quân trên 10%/năm. 
Để đạt được các mục tiêu nói trên, Nghị quyết đã xác định trong giai đoạn từ nay đến năm 2030 sẽ tập trung ưu tiên phát triển một số ngành công nghiệp như: Công nghệ thông tin và viễn thông, công nghiệp điện tử ở trình độ tiên tiến của thế giới, đáp ứng được yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 nhằm tạo ra nền tảng công nghệ số cho các ngành công nghiệp khác; công nghiệp năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, năng lượng thông minh; công nghiệp chế biến, chế tạo phục vụ nông nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Đồng thời, Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển công nghiệp dệt may, da giày nhưng ưu tiên tập trung vào các khâu tạo giá trị gia tăng cao gắn với các quy trình sản xuất thông minh, tự động hóa. Ngoài ra, một số ngành, lĩnh vực cơ khí cũng sẽ được ưu tiên phát triển như: ô tô, máy nông nghiệp, thiết bị công trình, thiết bị công nghiệp, thiết bị điện, thiết bị y tế…
Để tạo lập nguồn vốn cho việc thực hiện các mục tiêu nói trên, Nghị quyết cũng đề ra một số giải pháp quan trọng như hoàn thiện các chính sách tín dụng cho vay theo mạng sản xuất, chuỗi giá trị trong sản xuất công nghiệp, cho vay trên cơ sở hiệu quả của các dự án đầu tư; nâng cao khả năng tiếp cận tài chính, tín dụng (kể cả vốn vay từ nước ngoài) đối với các doanh nghiệp công nghiệp…
Như vậy, có thể thấy rằng trong giai đoạn từ nay đến năm 2030, việc phát triển công nghiệp ở nước ta đòi hỏi một lượng vốn đầu tư phát triển rất lớn. Cùng với đó, việc phát triển các ngành kinh tế khác phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030 cũng sẽ đòi hỏi không ít vốn đầu tư phát triển nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (dự kiến tổ chức vào đầu năm 2021) sẽ đặt ra.
Hiện tại, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đang thực hiện Đề án cơ cấu lại theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ với mục tiêu đến hết năm 2021 sẽ trở thành một ngân hàng chính sách hoạt động an toàn và bền vững. Đến khi hoàn thành việc tái cơ cấu theo Đề án nói trên, yêu cầu về nguồn lực phục vụ chính sách phát triển công nghiệp quốc gia cũng như Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội sẽ đòi hỏi VDB cung ứng cho nền kinh tế một lượng vốn tín dụng đầu tư (TDĐT) rất lớn, bởi theo định hướng chung được Đảng và Nhà nước đặt ra thì việc thực hiện các dự án đầu tư sẽ ngày càng ít sử dụng đến nguồn vốn ngân sách Nhà nước, mà dựa nhiều hơn vào các nguồn vốn tự có của các nhà đầu tư và vốn tín dụng (trong đó có vốn TDĐT của Nhà nước).
Trước đó, tại Chiến lược Tài chính đến năm 2020, Chính phủ đã xác định việc nâng cao vai trò định hướng của nguồn lực tài chính Nhà nước trong đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng như một giải pháp hàng đầu trong việc nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính gắn với quá trình tái cơ cấu nền tài chính quốc gia; đồng thời Chính phủ cũng nhấn mạnh sự cần thiết đổi mới phương thức phát triển tín dụng Nhà nước theo nguyên tắc thương mại nhằm đảm bảo tính bền vững. Điều đó có nghĩa rằng Chính phủ đã xác định một cách rõ ràng việc tập trung phát triển hệ thống cơ sở kết cấu hạ tầng vẫn là một nhiệm vụ trọng tâm của tài chính Nhà nước (bao gồm cả TDĐT của Nhà nước). Tuy nhiên việc tài trợ phát triển thông qua kênh TDĐT của Nhà nước cần được đổi mới theo hướng bền vững trên cơ sở tách bạch hoạt động của tổ chức thực thi chính sách TDĐT với các tổ chức tín dụng thông thường, nhưng vẫn phải đảm bảo nguyên tắc thương mại trong hoạt động tài trợ đầu tư phát triển. Do đó, việc hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách TDĐT của Nhà nước trong giai đoạn tiếp theo cần phải được tiếp tục hoàn thiện để đảm bảo đáp ứng một cách đầy đủ các yêu cầu này. 
Trong bối cảnh đó, VDB cần nỗ lực thực hiện các giải pháp cơ cấu lại để sau năm 2021 trở thành một ngân hàng chính sách phát triển một cách bền vững, hiệu quả, đảm bảo đủ năng lực để thực hiện chính sách TDĐT của Nhà nước cũng như các nhiệm vụ khác do Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ giao, góp phần thực hiện chính sách phát triển công nghiệp cũng như chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. 
Với tầm nhìn đó, trong thời gian tới, bên cạnh việc đẩy mạnh công tác xử lý các khoản nợ xấu TDĐT và sắp xếp, hoàn thiện tổ chức bộ máy nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay đầu tư, VDB cần nghiên cứu, đề xuất Chính phủ xem xét sửa đổi hoàn thiện một số quy định về TDĐT của Nhà nước cũng như chức năng, nhiệm vụ của VDB như sau:
Một là, xác định lại đối tượng vay vốn TDĐT của Nhà nước
Để đảm bảo tính trọng tâm, trọng điểm của chính sách TDĐT và phù hợp với khả năng về nguồn vốn, cần giới hạn đối tượng của TDĐT theo hướng tập trung vào các ngành, lĩnh vực có tác động quan trọng đến tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế và các dự án có ý nghĩa lớn về mặt xã hội. Theo đó, bên cạnh các dự án thuộc danh mục đối tượng vay vốn TDĐT của Nhà nước được quy định tại Nghị định số 32/2017/NĐ-CP hiện nay, Chính phủ cần xem xét bổ sung một số loại hình dự án thuộc các lĩnh vực được ưu tiên phát triển được đề cập ở phần đầu của bài viết.
Đồng thời, để đảm bảo tính bền vững của chính sách, cần duy trì sự ổn định của danh mục đối tượng vay vốn TDĐT trong một khoảng thời gian tối thiểu khoảng 5 năm và chỉ điều chỉnh khi cần thiết để phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội từng giai đoạn.
Hai là, sửa đổi quy định về điều kiện giải ngân 
Theo quy định tại Nghị định số 32/2017/NĐ-CP, khách hàng vay vốn TDĐT của Nhà nước phải đáp ứng điều kiện về việc không có nợ xấu tại các tổ chức tín dụng tại thời điểm VDB xem xét cho vay, giải ngân vốn vay.
Thực tế hoạt động cho vay nhiều năm qua tại VDB cũng như các tổ chức tín dụng khác cho thấy rằng, việc thực hiện quy định nói trên có thể làm phát sinh một số vướng mắc gây khó khăn cho quá trình tác nghiệp của VDB và có thể ảnh hưởng đến an toàn tín dụng. Xuất phát từ những lý do nêu trên, Chính phủ cần xem xét điều chỉnh hoặc quy định rõ hơn về điều kiện vay vốn TDĐT tại khoản 6 Điều 6 Nghị định số 32/2017/NĐ-CP theo hướng chỉ áp dụng quy định về điều kiện khách hàng không có nợ xấu tại các tổ chức tín dụng ở thời điểm VDB xem xét quyết định cho vay hoặc giải ngân vốn vay lần đầu tiên đối với dự án vay vốn TDĐT. Đối với khách hàng đã được VDB giải ngân một phần vốn vay theo hợp đồng tín dụng nhưng phát sinh nợ xấu tại các tổ chức tín dụng, VDB được chủ động xem xét và quyết định việc tiếp tục giải ngân vốn vay trên nguyên tắc đảm bảo an toàn tín dụng.
Ba là, mở rộng thẩm quyền của VDB trong xử lý rủi ro 
Để bảo đảm rủi ro tín dụng được xử lý một cách chủ động, kịp thời và hỗ trợ có hiệu quả trong việc tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp vay vốn TDĐT của Nhà nước, VDB cần nghiên cứu đề xuất Chính phủ xem xét mở rộng hơn nữa thẩm quyền của VDB trong việc sử dụng các biện pháp xử lý rủi ro phù hợp với mức độ rủi ro phát sinh và nguồn lực tài chính của ngân hàng này. Theo đó, Chính phủ có thể xem xét bổ sung quyền quyết định xử lý rủi ro vốn TDĐT của VDB đối với một số trường hợp trên nguyên tắc phù hợp với quy mô quỹ DPRR và không làm tăng số phí quản lý mà ngân sách nhà nước phải cấp cho VDB hàng năm, chẳng hạn: gia hạn nợ vượt thời hạn cho vay tối đa theo quy định của Chính phủ về TDĐT để hỗ trợ doanh nghiệp vay vốn có đủ thời gian phục hồi sản xuất; khoanh nợ và xoá lãi vay nếu không làm tăng phí quản lý phải cấp từ ngân sách Nhà nước cho VDB; xoá nợ gốc trong phạm vi số dự phòng chung và dự phòng cụ thể VDB đã trích cho khoản nợ cần xoá; bán nợ trong trường hợp giá bán không thấp hơn giá trị sổ sách của khoản nợ và trong trường hợp giá bán thấp hơn giá trị sổ sách của khoản nợ nhưng phần chênh lệch còn thiếu nằm trong phạm vi số dự phòng chung và dự phòng cụ thể đã trích cho khoản nợ cần bán…
Ngoài ra, đối với các trường hợp doanh nghiệp gặp rủi ro khách quan bất khả kháng nhưng có phương án sản xuất kinh doanh khả thi và hiệu quả, thì Chính phủ nên cho phép VDB được quyền cơ cấu lại thời hạn trả nợ và xem xét tiếp tục cho vay để tạo điều kiện cho doanh nghiệp duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo nguồn thu để trả nợ cho Nhà nước. Cơ chế này hiện đang được các tổ chức tín dụng áp dụng đối với các doanh nghiệp vay vốn để sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn - là lĩnh vực có nhiều loại dự án, mặt hàng thuộc đối tượng vay vốn TDĐT của Nhà nước. Việc áp dụng cơ chế này đối với các doanh nghiệp vay vốn TDĐT tại VDB có tác dụng một mặt tạo điều kiện tháo gỡ khó khăn tạm thời cho doanh nghiệp vay vốn, mặt khác đảm bảo nguồn vốn TDĐT của Nhà nước không kém ưu đãi hơn so với nguồn vốn của các tổ chức tín dụng thông thường. 
Bốn là, hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước đối với VDB
- Bổ sung các quy định nhằm xác định rõ địa vị pháp lý của VDB, tạo điều kiện để VDB được áp dụng các quy định liên quan như những tổ chức tín dụng khác, tiến tới xây dựng Luật Ngân hàng Phát triển.
- Sửa đổi, bổ sung một số quy định chức năng, nhiệm vụ của VDB theo hướng “mở” hoặc cho phép VDB từng bước triển khai thực hiện một số quyền hạn đã được pháp luật quy định, tạo điều kiện để VDB chủ động hơn trong hoạt động TDĐT như:
+ Bổ sung quy định về cho vay đồng tài trợ giữa VDB và các NHTM đối với các dự án thuộc đối tượng vay vốn TDĐT để giảm thiểu rủi ro cho VDB, đồng thời nâng cao trách nhiệm của các NHTM tham gia đồng tài trợ trong việc giám sát sử dụng vốn vay và thu hồi nợ.
+ Cho phép VDB nghiên cứu triển khai hoạt động cho vay vốn lưu động đối với những dự án vay vốn TDĐT của Nhà nước theo quy định tại Điều lệ tổ chức và hoạt động của VDB (ban hành kèm theo Quyết định số 1515/QĐ-TTg ngày 03/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ), nhằm tạo điều kiện để VDB kiểm soát hoạt động sản xuất kinh doanh của chủ đầu tư và thu hồi nợ của các dự án.
+ Cho phép VDB nghiên cứu triển khai thành lập Công ty quản lý tài sản (AMC) theo quy định tại Điều lệ tổ chức và hoạt động của VDB ban hành kèm theo Quyết định số 1515/QĐ-TTg ngày 03/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ để hỗ trợ việc quản lý nợ, mua bán nợ và quản lý tài sản bảo đảm tiền vay. 
- Ban hành quy định về đánh giá hiệu quả hoạt động của VDB, trong đó có quy định đặc thù về mức độ rủi ro tín dụng có thể chấp nhận được trong hoạt động TDĐT (chẳng hạn, tỉ lệ nợ xấu TDĐT có thể cao hơn nhiều lần so với các tổ chức tín dụng thông thường).
- Hoàn thiện quy chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước chức năng nhằm rút ngắn thời gian, đẩy nhanh tiến độ xử lý các vấn đề liên quan đến hoạt động TDĐT của VDB thuộc thẩm quyền của các Bộ, ngành như: trình Chính phủ sửa đổi, bổ sung danh mục dự án vay vốn TDĐT của Nhà nước; công bố lãi suất, kỳ hạn huy động trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh; trình Thủ tướng Chính phủ quyết định tỷ lệ chi phí quản lý ổn định trong thời kỳ 03 năm của VDB; phát hành văn bản bảo lãnh cho VDB huy động vốn từ các tổ chức tài chính, tín dụng nước ngoài; xử lý rủi ro TDĐT bằng các hình thức vượt quá thẩm quyền của VDB...)./.
Tìm theo ngày :