13/08/2020 10:04
Xem với cỡ chữ

Mở rộng hoạt động cho vay vốn tín dụng đầu tư tại VDB

TS. Nguyễn Cảnh Hiệp Ban Cân đối Kế hoạch, VDB (bài đăng số Tháng 3/2020 Tạp chí HTPT)
Tín dụng đầu tư (TDĐT) của Nhà nước là một biện pháp hỗ trợ về nguồn vốn từ Nhà nước đối với các doanh nghiệp dưới hình thức cho vay thông qua một định chế tài chính chuyên biệt do Nhà nước thành lập để đầu tư vào một số loại dự án phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và hạ tầng thuộc những ngành nghề, lĩnh vực hoặc địa bàn mà Nhà nước ưu tiên đầu tư. 
Ở nước ta, chính sách TDĐT của Nhà nước bắt đầu được triển khai thực hiện từ năm 2000 thông qua Quỹ Hỗ trợ phát triển (DAF) được thành lập theo Nghị định số 50/1999/NĐ-CP của Chính phủ.
Đến năm 2006, cùng với xu thế hội nhập kinh tế và đổi mới hoạt động tài chính - ngân sách, hoạt động TDĐT của Nhà nước cũng có sự thay đổi với việc thành lập Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) theo Quyết định số 108/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở tổ chức lại Quỹ Hỗ trợ phát triển. Việc tổ chức thực hiện chính sách TDĐT của Nhà nước theo mô hình ngân hàng phát triển thay cho mô hình quỹ tài chính nhà nước đã đánh dấu sự chuyển biến tích cực của quá trình cải cách tài chính công, mà cụ thể là của quá trình đổi mới phương thức tài trợ của Nhà nước đối với hoạt động đầu tư phát triển của nền kinh tế nhằm làm cho hoạt động này trở nên chuyên nghiệp và hiệu quả hơn, đồng thời phù hợp với các cam kết của Việt Nam về hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là khi nước ta trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (ngày 11/12/2006).
Tình hình triển khai hoạt động TDĐT tại VDB 
Kể từ khi thành lập đến nay, VDB đã cho các chủ đầu tư dự án vay hơn 220 nghìn tỷ đồng vốn TDĐT của Nhà nước. Số vốn TDĐT của Nhà nước mà VDB cho vay trong giai đoạn này chiếm khoảng 0,5% tổng sản phẩm trong nước (GDP), hơn 1,4% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và gần 4% vốn đầu tư phát triển từ khu vực Nhà nước cùng thời kỳ. Quy mô cho vay vốn TDĐT của Nhà nước tại VDB qua từng năm được thể hiện trên Biểu đồ 1.
Biểu đồ 1. Quy mô TDĐT của Nhà nước tại VDB giai đoạn 2006 - 2019
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm của VDB)
Các dự án mà VDB cho vay đầu tư là những dự án thuộc các ngành, lĩnh vực được Chính phủ khuyến khích phát triển như: sản xuất điện, thép, xi măng, phân bón...; phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, hệ thống cấp nước, phát triển quỹ nhà ở tập trung, bảo vệ môi trường; các dự án phát triển nông thôn (phát triển giống thuỷ sản, giống cây trồng, vật nuôi; xây dựng cơ sở chế biến gia súc, gia cầm tập trung); các dự án thuộc lĩnh vực xã hội hoá giáo dục, y tế...; các dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
Phần lớn những dự án vay vốn TDĐT tại VDB có tổng mức đầu tư lớn, thời gian đầu tư và thu hồi vốn kéo dài nên các ngân hàng thương mại (NHTM) ít khi cho vay vì không đủ tiềm lực tài chính hoặc không muốn gánh chịu rủi ro. Do đó, việc tiếp cận được với nguồn vốn TDĐT của VDB đã giúp cho các chủ đầu tư đủ sức thực hiện nhiều dự án lớn, quan trọng: Thuỷ điện Sơn La, Thuỷ điện Lai Châu, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, Nhà máy đạm Ninh Bình, Vệ tinh Vinasat 1 và 2, Đường ôtô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, Nhà máy điện gió Bạc Liêu, Nhà máy sữa TH... 
Bên cạnh việc cho vay đối với các dự án của từng chủ đầu tư riêng lẻ, VDB còn cho vay đầu tư đối với nhiều dự án thuộc các chương trình kinh tế trọng điểm của Nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu về phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ. Ngoài ra, VDB còn cho vay một lượng vốn tương đối lớn đối với các chương trình mang tính xã hội khác (cho ngân sách các địa phương vay để thực hiện chương trình kiên cố hoá kênh mương, tôn nền vượt lũ; xây dựng hệ thống cấp nước, xử lý rác thải...).
Các dự án được đầu tư bằng nguồn vốn TDĐT của VDB hoàn thành đưa vào sử dụng đã góp phần nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế mà còn đóng góp tích cực vào việc cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân trong vùng hưởng lợi của dự án, thông qua việc tạo ra nhiều việc làm mới, nâng cao năng lực của các cơ sở đào tạo và các bệnh viện, cải thiện môi trường sống…
Với việc cung ứng một lượng vốn đầu tư phát triển tương đối lớn cho nền kinh tế, hoạt động TDĐT của VDB trong những năm qua đã đạt được những thành tựu rất đáng ghi nhận, không chỉ góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà còn đem lại những hiệu quả rất lớn về mặt xã hội. Ngoài ra, hoạt động này còn những đóng góp rất quan trọng vào việc duy trì sự tồn tại và phát triển của chính bản thân VDB. 
Tuy nhiên, bắt đầu từ sau năm 2013, quy mô cho vay đầu tư hàng năm của VDB có xu hướng sụt giảm. Năm 2013, số vốn TDĐT giải ngân trong năm của VDB là 29.461 tỷ đồng và dư nợ TDĐT cuối năm đạt tới 123.418 tỷ đồng. Qua các năm, số vốn giải ngân và dư nợ TDĐT của VDB đã giảm dần. Đến năm 2019, VDB chỉ giải ngân được 1.392 tỷ đồng vốn TDĐT và dư nợ TDĐT tại thời điểm cuối năm chỉ còn lại 71.552 tỷ đồng, bằng 58% so với năm 2013.
Có nhiều nguyên nhân để giải thích cho tình trạng nói trên, trong đó cần phải kể đến sự thu hẹp mức độ ưu đãi theo chính sách của Nhà nước và những vướng mắc liên quan đến việc triển khai hoạt động cho vay của VDB. Có thể chỉ ra những nguyên nhân cơ bản của sự sụt giảm quy mô cho vay đầu tư trong giai đoạn này như sau:
Thứ nhất, về đối tượng vay vốn
Đối tượng thụ hưởng chính sách TDĐT của Nhà nước vốn dĩ đã bị hạn chế ngay từ khi mới ban hành các chính sách này, bởi trong điều kiện nguồn lực tài chính có hạn, Nhà nước chỉ hỗ trợ đối với những lĩnh vực, ngành nghề mà Nhà nước cần khuyến khích. Mặt khác, các đối tượng này cũng thường là những lĩnh vực, ngành nghề mà các NHTM thường ít cho vay do e ngại về khả năng sinh lời thấp và mức độ rủi ro cao.
Tuy nhiên, từ sau khi Nghị định số 75/2011/NĐ-CP ra đời, thì đối tượng vay vốn TDĐT càng bị thu hẹp hơn so với quy định tại các Nghị định ban hành trước đó. Tại Nghị định số 151/2006/NĐ-CP, Chính phủ quy định đối tượng vay vốn TDĐT gồm 24 loại dự án (không phân biệt dự án nhóm A, nhóm B hay nhóm C). Danh mục này sau đó được sửa đổi theo Nghị định số 106/2008/NĐ-CP, trong đó bổ sung các dự án đầu tư hạ tầng, mở rộng, nâng cấp, xây dựng mới và thiết bị trong lĩnh vực xã hội hoá văn hoá, thể dục thể thao, môi trường; đồng thời loại bỏ một số loại dự án như: dự án đầu tư đường bộ, cầu đường bộ, đường sắt và cầu đường sắt; dự án đầu tư hạ tầng kỹ thuật tại làng nghề tiểu thủ công nghiệp, cụm công nghiệp làng nghề ở nông thôn; dự án đầu tư chế biến sâu từ quặng khoáng sản để sản xuất phôi thép, gang có công suất tối thiểu 200 nghìn tấn/năm; dự án đầu tư xây dựng thủy điện nhỏ công suất nhỏ hơn hoặc bằng 100MW. Song đến khi Nghị định 75/2011/NĐ-CP ra đời thì đối tượng vay vốn TDĐT chỉ còn lại 21 loại dự án (trong đó chủ yếu là dự án thuộc nhóm A và nhóm B).
So với danh mục đối tượng vay vốn quy định tại Nghị định số 151/2006/NĐ-CP và Nghị định số 106/2008/NĐ-CP thì danh mục đối tượng vay vốn quy định tại Nghị định số 75/2011/NĐ-CP đã có sự thu hẹp đáng kể. Điều đáng nói là trong số các dự án, mặt hàng bị đưa ra khỏi danh mục đối tượng vay vốn nói trên, có những loại dự án đã từng được VDB cho vay vốn với khối lượng lớn trong giai đoạn trước đó, như: dự án đầu tư xây dựng thuỷ điện công suất trên 50MW, một số loại dự án thuộc nhóm C…
Việc thu hẹp đối tượng vay vốn TDĐT của Nhà nước như trên có tác dụng làm giảm gánh nặng hỗ trợ của ngân sách nhà nước (NSNN) đối với những ngành, lĩnh vực đã cải thiện được khả năng cạnh tranh và sinh lời hoặc những ngành, lĩnh vực mà Nhà nước không còn khuyến khích đầu tư. Tuy nhiên, việc làm này cũng đồng thời hạn chế vai trò của VDB trong việc cung ứng vốn đầu tư cho nền kinh tế bởi nhiều loại dự án, mặt hàng thuộc lĩnh vực tài trợ của VDB trước đây phải chuyển sang sử dụng các nguồn vốn khác, trong khi các loại dự án thuộc đối tượng vay vốn còn lại không thật sự thu hút được các doanh nghiệp đầu tư (vì chủ yếu dự án nhóm A, nhóm B mới được vay vốn của VDB).
Thứ hai, về thời hạn cho vay
Thời hạn cho vay đầu tư của VDB, thoạt tiên là một điểm rất hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Sự hấp dẫn này bắt nguồn từ đặc trưng về nguồn vốn hoạt động của VDB mà theo đó, các nguồn vốn được VDB sử dụng để cho vay chủ yếu có kỳ hạn dài, đặc biệt là vốn từ phát hành trái phiếu Chính phủ và trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh. Đây là một lợi thế mà gần như không một NHTM nào có thể có được, bởi nguồn vốn mà các ngân hàng này có thể huy động được thường là những nguồn vốn có kỳ hạn ngắn.
Tuy nhiên, cùng với sự cải thiện về điều kiện tích luỹ của dân cư cũng như yêu cầu về nguồn vốn đầu tư có kỳ hạn dài của nền kinh tế, việc các NHTM cho vay những món có kỳ hạn dài ngày càng trở nên phổ biến. Việc làm đó của các NHTM cũng được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ủng hộ thông qua việc nới lỏng tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn trong các văn bản quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng. Nếu như năm 2009, tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn mà các NHTM được sử dụng để cho vay trung và dài hạn tối đa là 30% (theo Thông tư số 15/2009/TT-NHNN ngày 10/8/2009 thì đến năm 2014, tỷ lệ này đã được NHNN nâng lên mức 60% (theo Thông tư số 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014).
Cùng với sự mở rộng về hành lang pháp lý như trên, các NHTM do chú trọng đầu tư vào việc thiết lập hệ thống cũng như áp dụng các chính sách, quy trình về quản trị rủi ro nên năng lực quản trị rủi ro thanh khoản ngày càng tốt hơn. Vì thế, khả năng sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn của các NHTM cũng được cải thiện, nguồn vốn của các ngân hàng này có thể sử dụng vào việc cho vay trung và dài hạn cũng ngày càng dồi dào hơn.
Xuất phát từ những lý do trên, nên việc có khả năng cho vay với những kỳ hạn dài tuy vẫn là một ưu thế của VDB so với các NHTM nhưng ưu thế này hiện nay đã được thu hẹp nhiều so với trước đây.
Thứ ba, về lãi suất cho vay
Lãi suất cho vay từng được coi là điểm hấp dẫn nhất của nguồn vốn TDĐT bởi nó hàm chứa trong đó sự ưu đãi khá lớn của Nhà nước. Những ưu đãi về lãi suất ngay từ đầu đã gắn liền với các nguồn vốn này và được duy trì trong nhiều năm. Tuy nhiên, qua từng lần sửa đổi chính sách TDĐT của Nhà nước, các ưu đãi này ngày càng được thu hẹp. 
Nếu như theo Nghị định số 151/2006/NĐ-CP và Nghị định số 106/2008/NĐ-CP, lãi suất cho vay đầu tư vẫn còn có phần ưu đãi tương đối rõ nét với quy định lãi suất cho vay đối với các dự án thông thường được xác định bằng lãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 5 năm cộng 0,5%/năm (theo Nghị định số 151/2006/NĐ-CP) hoặc cộng 1%/năm (Nghị định số 106/2008/NĐ-CP), thì đến Nghị định số 75/2011/NĐ-CP, ưu đãi về lãi suất TDĐT gần như bị xoá bỏ, với điều khoản quy định lãi suất cho vay đầu tư không thấp hơn lãi suất bình quân các nguồn vốn cộng với phí hoạt động của VDB, trong khi nguồn vốn cho vay của VDB chủ yếu là từ phát hành trái phiếu với lãi suất khá cao. Số liệu thống kê về lãi suất TDĐT của Nhà nước từ năm 2010 đến nay được thể hiện trên Bảng 1.
Bảng 1. Thống kê lãi suất TDĐT của Nhà nước giai đoạn 2010-2019
Thời kỳ
hiệu lực Lãi suất 
(%/năm) Cơ sở pháp lý
Văn bản Ngày ban hành
01/01/2010 - 31/01/2011 9,6 Quyết định số 3280/QĐ-BTC 25/12/2009
01/02/2011 - 14/02/2012 11,4 Thông tư số 203/2010/TT-BTC 14/12/2010
15/02/2012 - 24/6/2012 14,4 Thông tư số 201/2011/TT-BTC 30/12/2011
25/6/2012 - 03/6/2013 12,0 Thông tư số 104/2012/TT-BTC 25/06/2012
04/6/2013 - 13/11/2013 11,4 Thông tư số 77/2013/TT-BTC 04/06/2013
14/11/2013 - 10/08/2014 10,8 Thông tư số 161/2013/TT-BTC 14/11/2013
11/8/2014 - 10/12/2014 10,5 Thông tư số 108/2014/TT-BTC 11/08/2014
11/12/2014 - 18/5/2015 9,5 Thông tư số 189/2014/TT-BTC 11/12/2014
19/5/2015 - nay 8,55 Thông tư số 76/2015/TT-BTC 19/05/2015
(Nguồn: Tổng hợp từ các văn bản của Bộ Tài chính)
Việc lãi suất TDĐT ngày càng tiến sát với lãi suất thị trường như trên là phù hợp với các cam kết hội nhập quốc tế và giúp làm giảm gánh nặng cấp bù của NSNN đối với hoạt động tín dụng nhà nước. Tuy nhiên, điều này lại làm cho lãi suất cho vay của VDB ngày càng tỏ ra kém hấp dẫn. Trong khi đó, lãi suất cho vay của các NHTM ngày càng trở nên hấp dẫn hơn xuất phát từ các lý do cơ bản sau đây:
- Việc mở rộng sử dụng các nguồn vốn không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn ngắn để cho vay với thời hạn dài hơn (như trình bày phần trên) giúp các NHTM tiết kiệm đáng kể chi phí huy động vốn (bởi đây là những nguồn vốn giá rẻ), từ đó giảm được lãi suất cho vay.
- Do có khả năng cung cấp nhiều sản phẩm khác bên cạnh sản phẩm cho vay nên các NHTM có thể chủ động giảm lãi suất để thu hút khách hàng vay vốn và tạo nguồn thu bù đắp từ các dịch vụ phi tín dụng (quản lý tiền gửi, thanh toán trong nước và quốc tế, mua bán ngoại tệ…).
- Do có nhiều kinh nghiệm và nhiều công cụ quản lý rủi ro hơn nên các NHTM có khả năng giảm thiểu tổn thất trong hoạt động tín dụng, từ đó có điều kiện giảm lãi suất cho vay do giảm được phần chi phí bù đắp rủi ro.
Đối chiếu với mức lãi suất cho vay trung - dài hạn bằng đồng Việt Nam phổ biến của các NHTM được NHNN thống kê hàng năm, có thể thấy rằng chênh lệch giữa lãi suất TDĐT của Nhà nước và lãi suất cho vay của các NHTM trong những năm gần đây đã bị thu hẹp đáng kể. Theo thống kê của NHNN, lãi suất cho vay trung - dài hạn bằng đồng Việt Nam năm 2013 phổ biến ở mức 11,5-13%/năm, năm 2014 phổ biến ở mức 9,5-11%/năm, các năm 2015-2019 phổ biến ở mức 9-11%/năm. Số liệu trên Biểu đồ 2 cho thấy từ năm 2013, lãi suất TDĐT không còn thấp hơn nhiều so với lãi suất cho vay thông thường của các NHTM, thậm chí lãi suất TDĐT của VDB tại một số thời điểm còn cao hơn lãi suất cho vay trung - dài hạn của các NHTM.
Biểu đồ 2. Lãi suất cho vay trung - dài hạn giai đoạn 2011-2019

Thời kỳ hiệu lực   (%/năm)    Lãi suất Cơ sở pháp lý        Văn bản                   Ngày ban hành

01/01/2010 - 31/01/2011           9,6                   Quyết định số 3280/QĐ-BTC                     25/12/2009

01/02/2011 - 14/02/2012          11,4                 Thông tư số 203/2010/TT-BTC                 14/12/2010

15/02/2012 - 24/6/2012            14,4                 Thông tư số 201/2011/TT-BTC                 30/12/2011

25/6/2012 - 03/6/2013              12,0                 Thông tư số 104/2012/TT-BTC                 25/06/2012

04/6/2013 - 13/11/2013             11,4                 Thông tư số 77/2013/TT-BTC                   04/06/2013

14/11/2013 - 10/08/2014          10,8                 Thông tư số 161/2013/TT-BTC                 14/11/2013

11/8/2014 - 10/12/2014             10,5                 Thông tư số 108/2014/TT-BTC                 11/08/2014

11/12/2014 - 18/5/2015             9,5                   Thông tư số 189/2014/TT-BTC                 11/12/2014

19/5/2015 - nay                         8,55                 Thông tư số 76/2015/TT-BTC                   19/05/2015

 (Nguồn: Tổng hợp từ các văn bản của Bộ Tài chính và báo cáo của NHNN)

Ngoài ra, việc các NHTM được phép cho vay bằng ngoại tệ với lãi suất thấp hơn so với lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam hoặc cho các khách hàng lớn và khách hàng uy tín vay vốn với lãi suất thấp hơn lãi suất thông thường cũng làm cho nguồn vốn của TDĐT của Nhà nước càng trở nên kém hấp dẫn. Số liệu từ báo cáo thường niên các năm gần đây của NHNN cho thấy, lãi suất cho vay trung - dài hạn bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng tốt năm 2012 chỉ khoảng 9-11%/năm, năm 2013 chỉ khoảng 6,5-7%/năm, năm 2014 chỉ khoảng 5-6%/năm…; còn lãi suất cho vay trung - dài hạn bằng đô la Mỹ năm 2012 phổ biến ở mức 7-9%/năm, năm 2013 phổ biến ở mức 6-7%/năm, năm 2014 phổ biến ở mức 5,5-7%/năm, năm 2015 phổ biến ở mức 5,3-6,2%/năm, năm 2016 phổ biến ở mức 4,9-6,0%/năm, năm 2017 và 2018 phổ biến ở mức 4,5-6,0%/năm…

Thứ tư, về bảo đảm tiền vay
Tài sản bảo đảm tiền vay (BĐTV) trước đây cũng là một điểm hấp dẫn trong chính sách TDĐT của Nhà nước với quy định cho phép BĐTV chủ yếu bằng tài sản hình thành từ vốn vay. Theo Nghị định số 151/2006/NĐ-CP, chủ đầu tư vay vốn TDĐT được dùng tài sản hình thành từ vốn vay để BĐTV; trường hợp tài sản hình thành từ vốn vay không đủ điều kiện BĐTV, chủ đầu tư phải sử dụng tài sản hợp pháp khác để BĐTV với giá trị tối thiểu bằng 15% tổng mức vay vốn. Tuy nhiên, đến khi Chính phủ ban hành Nghị định số 75/2011/NĐ-CP, các chủ đầu tư vay vốn TDĐT phải thực hiện các biện pháp BĐTV tại VDB theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm với các biện pháp BĐTV bao gồm: Cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, sử dụng tài sản hình thành trong tương lai và các biện pháp bảo đảm khác (nếu có) theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm.
Trong khi đó, quy định về BĐTV áp dụng cho các NHTM càng ngày càng trở nên thông thoáng hơn. Các ngân hàng này cũng được phép sử dụng biện pháp BĐTV bằng tài sản hình thành từ vốn vay theo quy định tại Nghị định số 163/2006/NĐ-CP và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP. Ngoài ra, đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn (là lĩnh vực có nhiều dự án thuộc đối tượng vay vốn TDĐT của Nhà nước), các NHTM còn được phép cho vay không có tài sản BĐTV theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP và Nghị định số 55/2015/NĐ-CP. Thực tế thời gian qua cho thấy việc các NHTM nhận tài sản hình thành từ vốn vay để BĐTV cũng trở nên khá phổ biến; thậm chí đối với những khách hàng lớn và có uy tín, các NHTM còn miễn tài sản BĐTV hoặc chỉ yêu cầu BĐTV với giá trị thấp hơn nhiều so với mức vốn vay.
Như vậy, có thể thấy, chính sách về BĐTV trong hoạt động TDĐT của VDB đang ngày càng trở nên kém hấp dẫn hơn so với các NHTM, do đó tác dụng khuyến khích đối với các doanh nghiệp cũng không còn lớn như trước đây.
Thứ năm, về thủ tục vay vốn
Thủ tục vay vốn cũng là một trong những nguyên nhân khiến nhiều doanh nghiệp cảm thấy e ngại khi vay vốn TDĐT tại VDB. Do các nguồn vốn TDĐT đều là vốn Nhà nước nên việc sử dụng các nguồn vốn này phải tuân thủ các quy định rất chặt chẽ của pháp luật liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau (đầu tư xây dựng, đấu thầu, kiểm toán báo cáo tài chính…). Chẳng hạn:
- Theo quy định tại Nghị định số 75/2011/NĐ-CP, doanh nghiệp vay vốn TDĐT phải thực hiện đầy đủ thủ tục đầu tư theo quy định của pháp luật, phải thực hiện việc kiểm toán độc lập báo cáo tài chính hàng năm…
- Theo quy định tại Luật Đấu thầu, dự án đầu tư sử dụng vốn TDĐT của Nhà nước từ 30% tổng mức đầu tư hoặc trên 500 tỷ đồng phải thực hiện việc lựa chọn nhà thầu theo quy định của Luật Đấu thầu.
- Theo quy định tại Luật Đầu tư công năm 2014, vốn TDĐT của Nhà nước là vốn đầu tư công và việc quyết định chủ trương đầu tư các dự án sử dụng vốn TDĐT của Nhà nước phải thực hiện theo nguyên tắc, trình tự và thủ tục do Luật Đầu tư công quy định.
Việc phải tuân thủ đầy đủ các quy định nói trên, đặc biệt là những quy định liên quan đến thủ tục đầu tư xây dựng và lựa chọn nhà thầu, thường đòi hỏi rất nhiều hồ sơ được cấp bởi nhiều cơ quan khác nhau, trong khi đa số doanh nghiệp Việt Nam lại không có kinh nghiệm trong việc thực hiện các thủ tục này. Do đó, nhiều trường hợp doanh nghiệp không thể hoàn thành đủ các thủ tục theo quy định để được vay vốn tại TDĐT của Nhà nước, hoặc vẫn hoàn thành đủ các thủ tục này nhưng lại tốn rất nhiều thời gian dẫn tới việc đánh mất cơ hội kinh doanh.
Ngược lại với tình trạng này, các doanh nghiệp vay vốn tại NHTM không phải đáp ứng các yêu về những hồ sơ, thủ tục nói trên, đặc biệt là những thủ tục đòi hỏi mất nhiều thời gian liên quan đến trình tự đầu tư xây dựng và lựa chọn nhà thầu.
Đây cũng là một điểm khiến nhiều doanh nghiệp thích lựa chọn các NHTM làm nhà tài trợ vốn thay vì VDB, bởi sự đơn giản trong thủ tục cấp tín dụng của các ngân hàng này giúp doanh nghiệp tận dụng được thời cơ do giảm thiểu thời gian rút vốn vay để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.
Thứ sáu, về các dịch vụ ngân hàng đi kèm
VDB được thành lập trên cơ sở tổ chức lại Quỹ Hỗ trợ phát triển. Tuy hoạt động theo mô hình của một ngân hàng, song chức năng của VDB được pháp luật quy định lại rất hạn chế. Theo đó, ngoài nghiệp vụ cho vay đầu tư, cho vay xuất khẩu và cho vay lại vốn uỷ thác, dịch vụ ngân hàng duy nhất mà VDB được phép cung cấp cho khách hàng chỉ là dịch vụ thanh toán. Tuy nhiên, thực tế thì dịch vụ thanh toán mà VDB có thể cung cấp đến thời điểm hiện nay chỉ là thanh toán trong nước. 
Thực tế trên đây làm cho nguồn vốn TDĐT của Nhà nước kém tính tiện ích bởi doanh nghiệp vay vốn tại VDB không thể sử dụng các dịch vụ ngân hàng đi kèm để phục vụ hoạt động đầu tư dự án hoặc sản xuất kinh doanh (thanh toán quốc tế, mua bán ngoại tệ…). Để được thoả mãn các yêu cầu này, doanh nghiệp vay vốn buộc phải sử dụng dịch vụ của các NHTM, và điều đó làm tăng chi phí và thời gian giao dịch của doanh nghiệp do phải sử dụng nhiều ngân hàng phục vụ khác nhau.
Thứ bảy, về triển khai Nghị định số 32/2017/NĐ-CP 
Ngày 31/3/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 32/2017/NĐ-CP về TDĐT của Nhà nước thay thế cho Nghị định số 75/2011/NĐ-CP. Theo đó, lãi suất cho TDĐT của Nhà nước được xác định bằng mức lãi suất bình quân gia quyền của các mức lãi suất trúng thầu trái phiếu VDB được Chính phủ bảo lãnh kỳ hạn 05 năm trong thời gian 01 năm trước thời điểm công bố lãi suất cộng tỷ lệ chi phí quản lý hoạt động và dự phòng rủi ro của VDB, trong đó tỷ lệ chi phí quản lý ổn định trong thời kỳ 03 năm là do Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.
Tuy nhiên, kể từ khi Nghị định này có hiệu lực đến hết năm 2018, Bộ Tài chính vẫn chưa trình Thủ tướng Chính phủ quyết định tỷ lệ chi phí quản lý làm cơ sở để VDB công bố lãi suất cho vay đầu tư. Hệ quả là từ ngày 15/5/2017, VDB không thể cho vay thêm đối với dự án nào ngoài những dự án đã ký hợp đồng tín dụng trước khi Nghị định số 32/2017/NĐ-CP có hiệu lực. Điều đó cũng giải thích vì sao quy mô cho vay đầu tư của VDB trong giai đoạn 2017-2019 lại sụt giảm khá mạnh.
Một số đề xuất nhằm mở rộng hoạt động TDĐT tại VDB
Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 22/3/2018 của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã đặt ra mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam hoàn thành mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực ASEAN về công nghiệp, trong đó một số ngành công nghiệp có sức cạnh tranh quốc tế và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Các mục tiêu cụ thể chủ yếu cần đạt được đến năm 2030 là: tỷ trọng công nghiệp trong GDP đạt trên 40%; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP đạt khoảng 30%, trong đó công nghiệp chế tạo đạt trên 20%; tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng công nghiệp đạt bình quân trên 8,5%/năm, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo đạt bình quân trên 10%/năm. 
Để đạt được các mục tiêu nói trên, Nghị quyết đã xác định trong giai đoạn từ nay đến năm 2030 sẽ tập trung ưu tiên phát triển một số ngành công nghiệp như: Công nghệ thông tin và viễn thông, công nghiệp điện tử ở trình độ tiên tiến của thế giới, đáp ứng được yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 nhằm tạo ra nền tảng công nghệ số cho các ngành công nghiệp khác; công nghiệp năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, năng lượng thông minh; công nghiệp chế biến, chế tạo phục vụ nông nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Đồng thời, Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển công nghiệp dệt may, da giày nhưng ưu tiên tập trung vào các khâu tạo giá trị gia tăng cao gắn với các quy trình sản xuất thông minh, tự động hoá. Ngoài ra, một số ngành, lĩnh vực cơ khí cũng sẽ được ưu tiên phát triển như: ô tô, máy nông nghiệp, thiết bị công trình, thiết bị công nghiệp, thiết bị điện, thiết bị y tế…
Để tạo lập nguồn vốn cho việc thực hiện các mục tiêu nói trên, Nghị quyết cũng đề ra một số giải pháp quan trọng như hoàn thiện các chính sách tín dụng cho vay theo mạng sản xuất, chuỗi giá trị trong sản xuất công nghiệp, cho vay trên cơ sở hiệu quả của các dự án đầu tư; nâng cao khả năng tiếp cận tài chính, tín dụng (kể cả vốn vay từ nước ngoài) đối với các doanh nghiệp công nghiệp…
Như vậy, có thể thấy rằng trong giai đoạn từ nay đến năm 2030, việc phát triển công nghiệp ở nước ta đòi hỏi một lượng vốn đầu tư phát triển rất lớn. Cùng với đó, việc phát triển các ngành kinh tế khác phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2030 cũng sẽ đòi hỏi không ít vốn đầu tư phát triển nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (dự kiến tổ chức vào đầu năm 2021) sẽ đặt ra.
Hiện tại, VDB đang thực hiện Đề án cơ cấu lại theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ với mục tiêu đến hết năm 2021 sẽ trở thành một ngân hàng chính sách hoạt động an toàn và bền vững. Đến khi hoàn thành việc tái cơ cấu theo Đề án nói trên, yêu cầu về nguồn lực phục vụ chính sách phát triển công nghiệp quốc gia cũng như Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội sẽ đòi hỏi VDB cung ứng cho nền kinh tế một lượng vốn tín dụng đầu tư (TDĐT) rất lớn, bởi theo định hướng chung được Đảng và Nhà nước đặt ra thì việc thực hiện các dự án đầu tư sẽ ngày càng ít sử dụng đến nguồn vốn ngân sách nhà nước, mà dựa nhiều hơn vào các nguồn vốn tự có của các nhà đầu tư và vốn tín dụng (trong đó có vốn TDĐT của Nhà nước).
Trước đó, tại Chiến lược Tài chính đến năm 2020, Chính phủ đã xác định việc nâng cao vai trò định hướng của nguồn lực tài chính Nhà nước trong đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng như một giải pháp hàng đầu trong việc nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính gắn với quá trình tái cơ cấu nền tài chính quốc gia; đồng thời Chính phủ cũng nhấn mạnh sự cần thiết đổi mới phương thức phát triển tín dụng Nhà nước theo nguyên tắc thương mại nhằm đảm bảo tính bền vững. Điều đó có nghĩa rằng Chính phủ đã xác định một cách rõ ràng việc tập trung phát triển hệ thống cơ sở kết cấu hạ tầng vẫn là một nhiệm vụ trọng tâm của tài chính Nhà nước (bao gồm cả TDĐT của Nhà nước). Tuy nhiên việc tài trợ phát triển thông qua kênh TDĐT của Nhà nước cần được đổi mới theo hướng bền vững trên cơ sở tách bạch hoạt động của tổ chức thực thi chính sách TDĐT với các tổ chức tín dụng thông thường nhưng vẫn phải đảm bảo nguyên tắc thương mại trong hoạt động tài trợ đầu tư phát triển. Do đó, việc hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách TDĐT của Nhà nước trong giai đoạn tiếp theo cần phải được tiếp tục hoàn thiện để đảm bảo đáp ứng một cách đầy đủ các yêu cầu này. 
Trong bối cảnh đó, VDB cần nỗ lực thực hiện các giải pháp cơ cấu lại để sau năm 2021 trở thành một ngân hàng chính sách phát triển một cách bền vững, hiệu quả, đảm bảo đủ năng lực để thực hiện chính sách TDĐT của Nhà nước cũng như các nhiệm vụ khác do Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ giao, góp phần thực hiện chính sách phát triển công nghiệp cũng như chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Với tầm nhìn đó, trong thời gian tới, bên cạnh việc cơ cấu lại theo Đề án được duyệt và tích cực làm việc với Bộ Tài chính để trình Thủ tướng Chính phủ quyết định tỷ lệ chi phí quản lý ổn định trong thời kỳ 3 năm làm cơ sở xác định lãi suất cho vay, VDB cần nghiên cứu, đề xuất Chính phủ xem xét sửa đổi hoàn thiện một số quy định về TDĐT của Nhà nước như:
- Xác định lại danh mục đối tượng vay vốn TDĐT của Nhà nước theo hướng xem xét bổ sung một số loại hình dự án thuộc các lĩnh vực được ưu tiên phát triển được đề cập ở phần trên của bài viết, bên cạnh các dự án thuộc danh mục đối tượng vay vốn TDĐT của Nhà nước được quy định tại Nghị định số 32/2017/NĐ-CP hiện nay.
- Sửa đổi các quy định về điều kiện vay vốn TDĐT của Nhà nước liên quan đến lãi suất cho vay và tài sản BĐTV theo hướng cho phép VDB thực hiện chính sách phân biệt lãi suất cho vay và tỷ lệ BĐTV theo khách hàng vay vốn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có uy tín và có dự án hiệu quả được vay vốn TDĐT của Nhà nước với lãi suất thấp hơn và tỷ lệ BĐTV nhỏ hơn so với các doanh nghiệp khác. Việc áp dụng biện pháp BĐTV hoặc không áp dụng biện pháp BĐTV đối với mỗi khoản vay do VDB quyết định và chịu trách nhiệm theo mức độ rủi ro của khoản vay.
- Ưu tiên để VDB được huy động các nguồn vốn có lãi suất thấp từ các quỹ tài chính ngoài ngân sách nhà nước hoặc xem xét cấp bảo lãnh để VDB huy động vốn của các tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế trong trường hợp VDB tìm được nguồn vốn giá rẻ từ các tổ chức này; đồng thời tạo điều kiện cho VDB phát hành trái phiếu kỳ hạn phù hợp với yêu cầu cho vay đối với các dự án đầu tư có thời hạn thu hồi vốn dài thuộc đối tượng sử dụng vốn TDĐT của Nhà nước.
Bên cạnh việc hoàn thiện chính sách như trên, để đáp ứng yêu cầu về việc mở rộng hoạt động TDĐT của Nhà nước thì VDB, với tư cách là cơ quan trực tiếp thực thi chính sách, cần áp dụng các giải pháp để nâng cao năng lực của mình về mọi mặt, bao gồm cả năng lực tạo lập nguồn vốn, cung ứng dịch vụ ngân hàng và quản trị rủi ro. Theo đó, VDB cần tích cực tìm kiếm các nguồn vốn giá rẻ và đẩy mạnh huy động vốn bằng các hình thức khác nhau đã được cho phép tại Điều lệ tổ chức và hoạt động của VDB để giảm thiểu chi phí huy động vốn. Đồng thời, VDB cũng cần chú trọng nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng làm cơ sở quyết định lãi suất cho vay và biện pháp BĐTV phù hợp với hiệu quả của dự án và mức độ rủi ro của khoản vay. Cùng với đó, VDB phải có biện pháp nâng cao năng lực và hiệu quả quản trị rủi ro nhằm giảm thiểu các tổn thất và chi phí phát sinh trong hoạt động TDĐT, làm cơ sở giảm lãi suất cho vay nhằm mở rộng hoạt động cho vay. Ngoài ra, VDB cũng cần chủ động và tích cực thực hiện việc tư vấn và hỗ trợ đối với khách hàng trong việc hoàn thiện các thủ tục đầu tư xây dựng cũng như thủ tục vay vốn để triển khai các dự án thuộc đối tượng sử dụng vốn TDĐT của Nhà nước./. 
____
Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Cảnh Hiệp (2016), “Đổi mới hoạt động tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của VDB”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 8 (459), tháng 8/2016;
2. Nguyễn Cảnh Hiệp (2018), “Tạo lập nguồn vốn cho hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước hiện nay”, Tạp chí Ngân hàng, số 13 (7/2019);
3. Nguyễn Cảnh Hiệp (2020), “Tháo gỡ rào cản cho doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước”, Tạp chí Thị trường Tài chính - tiền tệ, Số 3+4 (540+541) năm 2020;
4. NHNN (2011-2018), Báo cáo thường niên 2010-2017, truy cập tại https://www.sbv.gov.vn/webcenter/portal/vi/menu/rm/apph/bctn;
5. NHNN (2018-2020), Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần, truy cập tại https://www.sbv.gov.vn/webcenter/faces/menu/sm/tcbc/ttvhdnhtt;
6. Tổng cục Thống kê (2007-2020), Tình hình kinh tế - xã hội 2006-2019, truy cập tại https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=621;
7. VDB (2007-2020), Báo cáo tổng kết hoạt động các năm 2006-2019./.
Tìm theo ngày :